Ký hiệu bản vẽ kiến trúc là bộ quy ước bằng nét và hình để nói tường dày bao nhiêu, cửa mở về đâu, cầu thang lên hướng nào, chỗ nào có bản vẽ chi tiết. Phần lớn ký hiệu dùng giống nhau giữa các đơn vị thiết kế ở Việt Nam, nhưng mỗi tập bản vẽ vẫn có quy ước riêng ghi ở trang ghi chú chung, và quy ước của chính tập đó luôn được ưu tiên.
Bài này gom các nhóm ký hiệu chủ nhà gặp nhiều nhất khi xem bản vẽ nhà phố, nhà vườn: loại nét, vật liệu, cửa, cầu thang, thiết bị, và các ký hiệu chỉ dẫn dẫn bạn từ trang này sang trang khác. Cuối bài là cách dùng AI tra một ký hiệu lạ mà không bị nó dẫn đi sai.
Nét vẽ nói gì: đậm, mảnh, đứt và chấm gạch
Trước cả hình dáng, độ dày và kiểu nét đã mang nghĩa. Người vẽ dùng nét để phân biệt cái bị cắt qua, cái nhìn thấy và cái bị che khuất. Các quy ước thường gặp:
| Kiểu nét | Thường dùng cho | Đọc như thế nào |
|---|---|---|
| Nét liền đậm | Tường, cột bị mặt phẳng cắt đi qua | Đây là phần vật chất thật sự ở độ cao cắt, thường là tường xây |
| Nét liền mảnh | Mép bậc, đồ đạc, đường kích thước, đường gióng | Những thứ nhìn thấy nhưng không bị cắt, hoặc chỉ là thông tin đo |
| Nét đứt | Vật bị che khuất hoặc nằm phía trên mặt cắt | Ví dụ dầm phía trên trần, tủ bếp treo, mép mái đua nhìn từ dưới lên |
| Nét chấm gạch mảnh | Trục định vị, đường tim | Đường quy chiếu, không phải vật thể |
| Nét chấm gạch đậm hai đầu có mũi tên | Vị trí đường cắt | Chỗ bổ ngôi nhà để vẽ mặt cắt, mũi tên chỉ hướng nhìn |
| Đường dích dắc | Chỗ ngắt hình | Hình bị cắt bớt vì quá dài, phần bỏ đi giống phần còn lại |
Nét đứt là nhóm hay bị bỏ qua nhất. Một đường đứt chạy ngang phòng khách trên mặt bằng tầng một rất có thể là dầm phía trên trần. Nếu bạn định làm trần phẳng hoặc treo đèn chùm ở giữa phòng, đường nét đứt đó là lý do để hỏi chiều cao dưới dầm còn bao nhiêu.
Ký hiệu tường và vật liệu trên mặt cắt
Tường xây gạch. Trên mặt bằng tỉ lệ nhỏ, tường thường tô đậm hoặc để trống giữa hai nét đậm. Ở tỉ lệ lớn hơn hoặc trên mặt cắt, tường gạch hay được thể hiện bằng các đường gạch chéo song song. Người trong nghề quen gọi tường 110 và tường 220 theo độ dày gạch chưa trát, hoặc gọi tắt tường mười, tường hai mươi.
Bê tông. Bê tông cốt thép trên mặt cắt thường tô đặc hoặc vẽ bằng chấm và tam giác nhỏ rải đều, tượng trưng cho đá trong bê tông. Thấy ký hiệu này ở sàn, dầm, cột là phần kết cấu, không phải chỗ có thể tự đục.
Đất tự nhiên và đất đắp. Phía dưới cốt nền trên mặt cắt có thể có ký hiệu đất: các nét gạch chéo ngắn, hoặc đường cong lượn. Lớp đắp, lớp cát lót, lớp bê tông lót thường có ký hiệu và ghi chú riêng.
Vật liệu khác. Gỗ hay có vân, kính là hai nét mảnh sát nhau, vật liệu cách nhiệt có hình lượn sóng. Mỗi tập bản vẽ có thể quy ước khác; trang ghi chú chung thường có bảng ký hiệu vật liệu.
Ghi chú lớp cấu tạo. Ở sàn vệ sinh, sân thượng, mái, bạn hay thấy một đường dẫn có nhiều dòng chữ xếp chồng: đó là các lớp từ trên xuống như lát gạch, vữa, chống thấm, bê tông sàn. Đọc từ trên xuống theo đúng thứ tự thi công ngược lại.
Ký hiệu cửa đi, cửa sổ và mã cửa
Cửa là nhóm ký hiệu nhiều nhất trên mặt bằng và hay gây tranh cãi khi thi công. Những điểm cần nắm:
- Cửa đi mở quay: một nét thẳng là cánh, một cung tròn mảnh là đường quét. Cung vẽ về phía nào thì cánh mở về phía đó. Cửa hai cánh có hai cung đối nhau.
- Cửa trượt hay cửa lùa: các nét cánh song song chồng lên nhau một đoạn, có mũi tên nhỏ chỉ chiều trượt, không có cung quét.
- Cửa xếp, cửa cuốn: ký hiệu riêng, thường có ghi chú chữ; cửa cuốn ở mặt tiền hay chỉ thấy trên mặt đứng và mặt cắt.
- Cửa sổ: nằm trong độ dày tường, thể hiện bằng hai hoặc ba nét mảnh song song. Chiều cao bậu cửa sổ không đọc được trên mặt bằng, phải xem mặt đứng hoặc chi tiết.
- Mã cửa: cạnh mỗi cửa thường có mã như Đ1, Đ2 cho cửa đi, S1, S2 cho cửa sổ. Mã này dẫn sang bảng thống kê cửa, nơi ghi kích thước, kiểu mở, vật liệu khung, số lượng.
- Ô thông gió, ô kính cố định trên cao: thường có ghi chú riêng hoặc chỉ hiện trên mặt đứng.
Mẹo nhỏ: lấy bảng thống kê cửa, đánh dấu từng mã trên mặt bằng bằng bút màu. Mã nào trong bảng mà không thấy trên mặt bằng, hoặc ngược lại, là chỗ cần hỏi. Việc này nhàm nhưng giúp bạn phát hiện cửa bị thiếu trong báo giá rất sớm.
Cầu thang, bậc tam cấp và đường dốc
Cầu thang trên mặt bằng là một dãy nét song song, mỗi nét là mép một bậc. Một mũi tên chạy dọc vế thang, gốc có chấm tròn nhỏ, đầu có chữ "lên" hoặc chỉ mũi tên, cho biết chiều đi lên tính từ tầng đang xem. Ở khoảng giữa vế thang có một đường chéo hoặc dích dắc: đó là chỗ mặt phẳng cắt mặt bằng đi qua, phần bậc phía trên đường này thuộc về tầng trên nên thường vẽ bằng nét đứt hoặc bỏ đi.
Bạn đếm số nét để biết số bậc, và đọc chiếu nghỉ là ô phẳng giữa hai vế. Chiều cao từng bậc không thấy trên mặt bằng; nó bằng chiều cao tầng chia cho số bậc, và thường ghi rõ trên bản vẽ chi tiết cầu thang hoặc mặt cắt. Chiều rộng mặt bậc, tức phần đặt bàn chân, đọc bằng khoảng cách giữa hai nét. Hai con số này quyết định thang đi có êm không, nên đáng để bạn hỏi kiến trúc sư giải thích.
Bậc tam cấp ở cửa chính và đường dốc dắt xe vào nhà thường được vẽ tương tự, có mũi tên kèm chữ "dốc" và đôi khi ghi độ dốc bằng phần trăm. Với nhà có người già hoặc người dùng xe lăn, đường dốc và tay vịn là chi tiết nên đọc kỹ trên chi tiết phóng to, không chỉ trên mặt bằng tổng.
Ký hiệu chỉ dẫn: đường cắt, chi tiết và hướng bắc
Ký hiệu đường cắt. Hai đoạn nét đậm ở hai đầu, có mũi tên và chữ hoặc số như A-A. Mở trang mặt cắt cùng tên để xem phần nhà đó theo chiều đứng.
Ký hiệu chỉ dẫn chi tiết. Thường là vòng tròn chia đôi bằng một nét ngang: nửa trên ghi số chi tiết, nửa dưới ghi số trang chứa chi tiết đó. Khi thấy vòng tròn này cạnh cầu thang hay góc nhà vệ sinh, nghĩa là có một hình vẽ phóng to ở trang kia.
Ký hiệu cao độ. Tam giác nhỏ kèm con số có dấu cộng hoặc trừ, đơn vị mét, tính từ mốc ±0.000 của công trình.
Mũi tên hướng bắc. Thường ở mặt bằng tổng thể hoặc mặt bằng tầng một. Từ hướng bắc bạn suy ra phòng nào hứng nắng chiều, mặt tiền có bị nắng gắt không, rất hữu ích khi bàn chuyện che nắng và thông gió.
Đường dẫn ghi chú. Một nét mảnh, đầu có chấm hoặc mũi tên chỉ vào vật thể, đuôi là dòng chữ ghi vật liệu hoặc yêu cầu thi công. Đọc chữ ở đuôi, nhìn vật ở đầu.
Ký hiệu thiết bị vệ sinh, bếp và đồ đạc cố định
Trên mặt bằng tỉ lệ 1/50 hoặc 1/100, thiết bị được vẽ bằng hình đơn giản theo đúng kích thước gần đúng: bồn cầu là hình bầu dục gắn với một hình chữ nhật nhỏ là két nước, chậu rửa mặt là hình bầu dục hoặc chữ nhật có chấm tròn ở giữa là lỗ thoát, khu tắm đứng là ô vuông có hai đường chéo hoặc một chấm thoát sàn. Bồn tắm nằm là hình chữ nhật bo góc. Ở bếp, bạn sẽ thấy chậu rửa một hoặc hai hố, bếp nấu với các vòng tròn tượng trưng cho vùng đun, và dải tủ bếp dưới vẽ bằng nét liền, tủ treo phía trên vẽ bằng nét đứt.
Điều đáng chú ý là các hình này không chỉ để trang trí bản vẽ. Vị trí bồn cầu, chậu rửa, phễu thu sàn quyết định chỗ đặt ống thoát bên dưới sàn, và bản vẽ cấp thoát nước sẽ đi theo đúng vị trí đó. Dời bồn cầu sang tường đối diện sau khi đã đổ sàn là việc phải đục, đổi độ dốc ống, có khi phải nâng nền. Vì vậy khi thấy một thiết bị đặt chưa hợp ý trên mặt bằng kiến trúc, bạn nên nói ngay ở giai đoạn này.
Đồ đạc rời như giường, sofa, bàn ăn thường vẽ bằng nét mảnh hơn, chủ yếu để chứng minh phòng kê vừa. Hãy kiểm kích thước giường vẽ trên mặt bằng có bằng chiếc giường bạn định mua không, vì người vẽ đôi khi dùng giường nhỏ hơn để phòng trông thoáng.
Dùng AI tra ký hiệu lạ mà không bị dẫn sai
Khi gặp một ký hiệu không có trong bảng quy ước của tập bản vẽ, AI là chỗ hỏi nhanh. Một số nguyên tắc giữ cho câu trả lời có ích:
- Tìm bảng ký hiệu trong trang ghi chú chung trước. Quy ước của chính tập bản vẽ luôn đúng hơn mọi lời giải thích chung chung.
- Chụp sát ký hiệu cùng một chút ngữ cảnh xung quanh, nói rõ đây là bản vẽ kiến trúc nhà ở tại Việt Nam, trang mặt bằng hay mặt cắt.
- Câu lệnh mẫu: "Ký hiệu trong ảnh xuất hiện trên mặt bằng tầng một một nhà phố. Liệt kê các khả năng nó biểu thị, khả năng nào phổ biến nhất ở bản vẽ Việt Nam, và nên hỏi kiến trúc sư câu gì để xác nhận."
- Yêu cầu AI nêu nhiều khả năng thay vì một đáp án chắc nịch. Ký hiệu cùng hình dạng có thể mang nghĩa khác tuỳ đơn vị vẽ.
- Che khung tên, tên người, địa chỉ trước khi gửi ảnh; ký hiệu không cần những thông tin đó để được giải nghĩa.
- Ghi lại ký hiệu và lời xác nhận của kiến trúc sư vào một trang riêng, dần dần thành bảng tra của chính ngôi nhà bạn.
AI thường giải thích tốt các ký hiệu phổ biến, nhưng có thể tự tin nói sai với ký hiệu riêng của một văn phòng. Câu trả lời chỉ dùng để biết nên hỏi gì; người xác nhận cuối cùng là người đã vẽ.
Câu hỏi thường gặp
Tường 110 và tường 220 nghĩa là gì?
Đây là cách gọi quen trong nghề theo độ dày tường gạch chưa trát, khoảng một viên và hai viên gạch đặt ngang. Sau khi trát hai mặt, tường thực tế dày hơn con số này. Độ dày cụ thể của nhà bạn đọc trên mặt bằng hoặc ghi chú chung, không suy đoán từ cách gọi.
Vì sao trên mặt bằng có nét đứt chạy ngang phòng?
Nét đứt thường biểu thị vật nằm phía trên mặt phẳng cắt hoặc bị che khuất, như dầm, mép mái đua, tủ bếp treo. Nếu bạn định làm trần hay lắp quạt trần ở đó, hỏi kiến trúc sư nét đứt đó là gì và chiều cao dưới nó bao nhiêu.
Làm sao biết cửa mở vào trong hay ra ngoài?
Nhìn cung tròn mảnh vẽ cạnh cánh cửa trên mặt bằng. Cung nằm phía nào thì cánh quét về phía đó. Cửa trượt không có cung mà có các nét song song chồng lên nhau và mũi tên chỉ chiều trượt.
Mã cửa Đ1, S1 dùng để làm gì?
Mã cửa liên kết vị trí trên mặt bằng với bảng thống kê cửa, nơi ghi kích thước, kiểu mở, vật liệu và số lượng. Bạn dùng bảng này để đối chiếu báo giá và kiểm tra cửa lắp thực tế có đúng loại không.
Vòng tròn có số chia đôi trên bản vẽ là gì?
Đó thường là ký hiệu chỉ dẫn chi tiết: số trên là số hiệu chi tiết, số dưới là trang có chi tiết đó. Lật sang trang được ghi để xem hình phóng to của vị trí ấy, như bậc cầu thang hay góc chống thấm.
Ký hiệu trên bản vẽ có giống nhau ở mọi đơn vị thiết kế không?
Phần lớn ký hiệu cơ bản tương đối thống nhất, nhưng mỗi đơn vị có thể có cách thể hiện riêng, nhất là ký hiệu vật liệu và thiết bị. Vì vậy luôn đọc bảng ký hiệu ở trang ghi chú chung của chính tập bản vẽ trước khi tra ở nơi khác.